Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

 Giải thích học mỹ học hiện đại

Khổng Đức



Giải thích học mỹ học hiện đại là một trường phái quan trọng trong hậu bán thế kỷ thứ 20. Giải thích học vốn có nguồn gốc từ cổ Hi Lạp. Theo định nghĩa ban đầu, giải thích học là xuyên qua sự nỗ lực thuyết minh cái tự thân của chúng, làm sáng tỏ và truyền đạt các sự kiện truyền thống mà chúng ta kế thừa điều người ta đã nói gì về nghệ thuật.
Giải thích học theo thần thoại Hi Lạp thì Hermes là tên một vị sứ thần của Thượng Đế đã trải qua sự phát triển dài dòng của một quá trình lịch sử, và cũng là một bộ môn giải thích kĩ thuật bản văn đến quá trình diễn biến của một thứ lí luận triết học. Đến thời cận đại, nhà triết học của Đức là Schleiermacher mới sử dụng cái qui tắc đặc biệt của giải thích học để lí giải các vấn đề, từ đó khiến cho giải thích học thành một môn triết học. Do đó, mà giải thích học mỹ học mới phát sinh thành cơ sở của phương diện triết học.
1. Sự hình thành của giải thích học mỹ học hiện đại
Bản chất giải thích học mỹ học là một bộ phận của triết học giải thích học, nó vận dụng quan điểm cơ bản của triết học giải thích học và phương pháp nghiên cứu hiện tượng thẩm mỹ cùng với vấn đề mỹ học của trường phái nầy. Giải thích học mỹ học hiện đại là đặt cơ sở theo giải thích học truyền thống và được bắt đầu chuẩn bị từ thập niên 30 của thế kỷ 20, và đến năm 1960 thì mới chính thức hoàn thành. Thế kỷ 20 là thời đại quan trọng của lịch sử loài người. Một mặt khoa học kỹ thuật và sự sản xuất bột phát, sáng tạo ra công nghiệp điện tử, chính nền công nghiệp nầy là tiêu chí của sự sản xuất to lớn, không có thời đại quá khứ nào có thể so sánh được. Một mặt khác, đó là thời đại đầy nguy cơ tai họa và có lắm cuộc cải cách to lớn. Do xã hội tư bản chủ nghĩa biến đổi nhiều mâu thuẫn phát sinh kinh tế chính trị nguy cơ gây ra chiến tranh, khiến cho con người vô cùng khốn khổ về vật chất cũng như tinh thần, từ đó sinh ra sự hoài nghi và chống đối về văn hóa truyền thống. Giải thích mỹ học sinh ra từ nước Đức, người khai sáng là Heidegger và đại biểu chủ yếu là Gadamer, đều là dân Đức quốc. Nước Đức vốn là nước chủ nghĩa tư bản, đồng thời lại là nước bại trận trong hai cuộc thế chiến; vì vậy mà giới tư tưởng phát sinh sự đột kích vĩ đại, và phá họai nền văn hóa truyền thống. Chính trong bối cảnh đó mà tư tưởng mỹ học Heidegger và Gadamer mới trở thành dấu ấn tươi sáng của thời đại. Họ đều là người có ý đồ dựa theo lịch sử và truyền thống mà truy tầm một con đường mới; nhưng tuyệt đối không quay về với quá khứ, mà đứng trên vị thế hiện tại, lấy con mắt hiện tại mà nhìn vào lịch sử và truyền thống. Đó là các giai tằng phổ biến trong xã hội Đức quốc nhắm giải quyết các thứ mâu thuẩn và hiện thực tồn tại cùng với nguyện vọng bức thiết được phản ánh trong mỹ học và triết học một cách khúc chiết. Cái tai họa của khoa học cận đại là cứ tin rằng khoa học sẽ giải quyết được tất cả. Từ đó mà quên đi việc giải quyết con người tự thân; trong khoa học sử dụng mô thức tư duy cơ bản và phương pháp phân chia rõ ràng chủ thể và khách thể. Đó là điều trực tiếp đưa đến nguy cơ của triết học cận đại; vì nhiệm vụ cơ bản của triết học truyền thống chỉ là nhắm vào việc tìm hiểu chủ thể làm sao nhận thức được khách thể. Nhưng trong khi nhận thức đối tượng lại không hề lo lắng một chút gì đến vai trò chủ thể, đó là đặc điểm cơ bản của khoa học thiên nhiên, như thế thì còn cần gì đến triết học? Nên triết học giải thích học hiện đại mới phát sinh trong bối cảnh văn hóa đó. Nó nắm lấy cái then chốt là sự phân chia chủ thể và khách thể trong triết học cận đại, mà đưa ra sự kết hợp thống nhất chủ thể và khách thể, tạo ra sự nhận thức thế giới một cách mới mẻ.
Giải thích học mỹ học hiện đại dùng triết học giải thích học làm cơ sở tạo ra các phương diện mỹ học. Sự phát sinh giải thích học mỹ học hiện đại, có thể nói là một sáng chế mới đầy táo bạo, gây ra ảnh hưởng lớn đối với mỹ học truyền thống tây phương. Nói về cội nguồn tư tưởng của nó là bao hàm hêt các nhà mỹ học trứ danh như Platon, Aristote, Kant, Hegel, Hirsh, Dithey,v…v…. Tác phẩm“tinh thần trợ giúp việc sinh ra nghệ thuật của Platon trong đo có phương pháp đối thoại ảnh hưởng sâu xa đối với giải thích học mỹ học hiện đại. Quan điểm cơ bản của giải thích học mỹ học hiện đại của Heidegger và Gadamer là sự đối thọai lí giải với bản văn nghệ thuật (trong khi thưởng ngoạn). Aristote thì rất coi trọng người thưởng ngoạn, đó là điểm gợi ý quan trọng đối với giải thích học mỹ học hiện đại. Ông ta đối với kịch trường có định nghĩa trứ danh là coi khán giả như là người xác định nội dung quan trọng. Đồng thời mỹ học của Kant và Hegel cũng tạo ra ảnh hưởng lớn đối với giải thích học mỹ học hiện đại. Vấn đề mà thẩm mỹ học giải thích học hiện đại nhằm giải quyết là làm sao thẫm mỹ có thể lí giải được hoàn toàn giống với vấn đề cơ bản của học thuyết Kant “ con người làm sao có thể nhận thức được?” Và lịch sử mỹ học của Hegel là sự gợi ý quan trọng đối vơi giải thích học mỹ học hiện đại. Ngoài ra còn có phương diện khác nữa gây hứng khởi cho giải thích học mỹ học hiện đại là sự giải thích mỹ học trực tiếp của mỹ học truyền thống. Đó là chưa kể đến anh hưởng quan trọng nhất là sự giải thích học mỹ học của Schleiermacher (1768-1864) và Dithey (1833-!911). Họ đưa ra hàng loạt những vấn đề cơ bản như giải thích tuần hoàn, vấn đề ngôn ngữ đến giải thích học mỹ học hiện đại trở thành phổ biến quan trọng, dù rắng những nhà mỹ học về sau đưa ra những đáp án không giống như trước có khi đối lập là khác. Ngoài ra có nhà mỹ học như Hirsh dùng trực tiếp quan điểm cơ bản của Schleiermacher, lại còn yêu cầu xây dựng lại nguyên ý các quan điểm của họ. Đáng chú ý nhất là triết học Hiện tượng học của Hussserl (1859-1938) có ảnh hưởng lớn đối với việc hình thành giải thích học mỹ học hiện đại. Heidegger và Gadamer đã hấp thu và cải tạo phương pháp hiện tượng học, tạo thành cơ sở phương pháp luận cho tư tưởng mỹ học của mình. Thật ra là sau khi thiết lập bản thể luận trong triết học, Heidegger mới bắt đầu công kích giải thích học mỹ học truyền thống. Ricoeur từng nêu ra lí luận giải thích học mỹ học đương đại là vấn đề tâm lí học đơn giản chuyển hướng thành bản thể luận của giải thích tự thân. Sự chuyển hướng ấy thể hiện trong tác phẩm “ Tồn tại và thời gian”(Sein un Zeid – Being and Time). Vấn đề lí giải không phải trở lại là khái niệm tâm lí học mà là sự di tình tách ra khỏi khái niệm “dị hóa”; nó là sự tồn tại tổ thành một trong ý nghĩa của bản thể luận. Sự tồn tại được lí giải cũng không trở lại là một thứ ý thức, mà là một thứ thực tại. Heidegger không chỉ chú ý đến phương pháp lí giải thẩm mỹ, mà coi lí giải như là một vấn đề tâm lí, sự lí giải thẩm mỹ thành một đối tượng đạt đến bản chất tồn tại. Đối với vạn sự vạn vật phải tìm cho ra bản thể tồn tại, như vậy Heidegger là người phát sinh bản thể luận xác định cơ sở giải thích học mỹ học. Nhưng nơi Heidegger đối với hàng loạt vấn đề cụ thể lí giải thẩm mỹ chưa được khai triển đầy đủ; có thể nói ông là người mở ra phương hướng, rồi được đồ đệ là Gadamer triển khai. Thành quả nghiên cứu của Gadamer tập trung phản ánh trong tác phẩm “Chân lý và phương pháp” (Truch and method). Tiêu chí vấn thế của tác phẩm là sự phát sinh chính thức của giải thích học mỹ học hiện đại. Gadamer đứng trên lập trường triêt học cơ bản của Heidegger, coi mỹ học như là một bộ phận tổ chức hữu cơ của triết học giải thích học, đưa thẩm mỹ lí giải thành tiền đề căn bản trình bày nghệ thuật tồn tại của bản văn, nhấn mạnh đặc điểm thẩm mỹ lí giải của lịch sử tính và ngôn ngữ tính, xác lập cái khung lí luận cơ bản của giải thích học mỹ học hiện đại.
Bản thể luận giải thích học mỹ học
Mỹ học của Heidegger rất phong phú, nó bao hàm: hiện tượng học, tồn tại học, và giải thích học. Đầu tiên là do Schleiermacher (1768-1834) và Dilthey (1833-1911) đưa ra, phương pháp luận của giải thích là từ phạm vi nhận thức luận triển khai. Heidegger không thỏa mãn với sự giải thích đó, ông bèn căn cứ từ bản thể luận cơ bản của mình mà đưa ra môt sự lí giải mới. Cơ bản mỹ học của ông là giống như triết học, xuất phát từ sự tồn tại (das sein). Tồn tại của ông là “tại đây”, tức là tiến hành từ con người. Do đó phương thức tồn tại của con người mới có ý nghĩa quan trọng. Trước tiên con người tồn tại thì thế giới mới tồn tại, tức là sự tồn tại của người tóm lại là cùng với thế giới vật chất, với sự liên hệ tha nhân cùng tồn tại. Về căn bản mà nói, triết học của Heidegger là xuyên qua “tại đây” mà suy tìm ý nghĩa tồn tại của triết học. Về mỹ học cũng giống như giải thích học thông qua sự suy tìm mỹ và các thứ bản chất nghệ thuật, mà phô bày ý nghĩa bản thể luận của tồn tại. Do đó theo ý nghĩa đúng đắn, ông cho rằng giải thích học mỹ học là một mắc xich quan trọng trong triết học của ông.
Nói vể giải thích học mỹ học, Heidegger có công lớn là đem phương pháp luận cận đại của giải thích mỹ học chuyển thành ra là bản thể luận của giải thích học mỹ học; từ đó mà xa rời phương hường giải thích học mỹ học hiện đại. Theo ông chủ yếu của giải thích học mỹ học không phải là lí giải thẩm mỹ là cung cấp qui tắc và phương pháp cụ thể mà là căn cứ theo khía cạnh tồn tại mà truy tầm vấn đề mỹ học. Ông từng phân tích họa phẩm đôi giày của Van Gogh….
Trong tác phẩm cái cần tồn tại là cái gì, và làm sao phơi bày nó ra, thì chân lý của tác phẩm bèn xuất hiện. Ông đòi hỏi, đối với tác phẩm nghệ thuật, khi tiến hành viêc tìm hiểu thẩm mỹ, nên truy tầm góc độ bản thể luận tức đem tác phẩm ra phân tích, tìm hiểu sự tồn tại của nó. Trong quá trình tìm hiểu thứ thẩm mỹ ấy, cũng tức là cái mà Heidegger gọi là quá trình “khử tệ” phá sự che lấp. Bản chất của nghệ thuật cùng liên hệ mật thiết với sự tồn tại, dùng lời của Heidegger mà nói, tức là “tác phẩm nghệ thuật dùng phương thức của nó khai mở “sự tồn tại của tồn tại”. Sự khai mở khảo sát ấy tức là phô bày chân lý của sự tồn tại thực hiện ngay trong tác phẩm. Trong tác phẩm nghệ thuật, chân lý tồn tại tự nó nằm trong tác phẩm. Nghệ thuật tức tự động đưa chân lý vào tác phẩm. Ông ta đối với việc lí giải bản chất mỹ cũng như nghệ thuật là theo góc độ bản thể luận mà luận vậy. Ông ta chỉ ra rằng, cái tồn tại của tự ngã dấu đi lại được sáng tỏ, cái anh sáng ấy được tan biến vào trong tác phẩm. Tia sáng rực rỡ được tan biến vào trong tác phẩm tức là cái mỹ của sự vật. Mỹ là một phương thức trong đó chân lý kể như được sản sinh bộc lộ. Từ đó mới thấy đối với vấn đề cơ bản mỹ học được giải quyết đều là tiến hành theo góc độ bản thể luận. Ông đem nghệ thuật và mỹ đối với tồn tại và chân lí tồn tại đều được phô bày, do đó việc hiểu rõ tác phẩm nghệ thuật cùng với các đối tượng thẩm mỹ khác, là nắm cho được cái mỹ ở bên trong, trên thực tế là lí giải quá trình bản thể tồn tại vạn sự vạn vật trong đời. Như thế ông dùng bản thể luận là thiết lập cơ sở giải thích mỹ học. Heidegger mở ra một phương hướng mà về sau học trò của ông là Gadamer kế thừa và khai triển rộng ra.
Đại biểu chính của giải thich học mỹ học hiện đại là Hans-Georg Gadamer
Ông sinh ngày 11-2-1900, từng học tại Marburg đại học và Fruburg, là đồ đệ của Heidegger. Từ năm 1937 ông đã giảng dạy ở Marburg, từng là giáo sư tại đại học Boston ở Mỹ. tác phẩm tiêu biểu của ông là “Chân lí và phương pháp”(truth and method). Ngoài ra còn có “Triết học giải thích học” (Philosophical Hermeneutics); “Lí tính của thời đại khoa học” (Raison in the age of science), “Đối thoại với biện chứng phap” (Dialogue and dialectic), “Nghiên cứu luận văn giải thích của Plato” (Hermeneutical Studies on Plato), “Biện chứng pháp của Hegel” (Hegel’s Dialectic),” Luận văn nghiên cứu giải thích học” (Five Hermeneutical Studies).
Giải thích học là một bộ phận của triết học mỹ học
Tư tưởng mỹ học của Gadamer chịu ảnh hưởng toàn bộ truyền thống mỹ học Tây phương, mà ảnh hưởng to lớn nhất chính là Heidegger. Mãi đến năm 85 tuổi, Gadamer mới viết trong bài “ phê phán sự thưởng ngoạn của bản thân, ông nói thẳng thắn “ Triết học giải thích học của tôi là tiếp tục dòng tư tưởng của Heidegger, cùng dùng phương pháp mới để đạt được tư tưởng của ông ấy.” Chính là từ Heidegger mà đạt đến điểm xuất phát cao độ đối với việc giải thích học mỹ học, Gadamer đã nhập sâu vào hệ thống bản thể luận khiến thể hệ lí luận mỹ học thành hoàn chỉnh. Giải thích mỹ học của Gadamer cơ bản xuất phát điểm là đem mỹ học đặt thành một bộ phận của triết học giải thích học. Lập trường ấy của ông là bao hàm sự phê phán đối với mỹ học truyền thống. Cơ bản của truyền thống mỹ học nầy là có khuynh hướng chia phân giữa nghệ thuật và chân lý, coi thường việc tìm hiểu tồn tại. Gadamer cho rằng nghệ thuật có thể phô bày sự tồn tại, vì trong thiên nhiên cũng như trong nghệ thuật chúng ta luôn luôn đối diện với tất cả sự vật, chính là nghệ thuật trực tiếp đối diện với chúng ta nói năng, chúng cùng với chúng ta có một thứ tiếp cận thần bí, có thể nắm được toàn bộ sự tồn tại của chúng ta, giống như giữa chúng ta không hề có khoảng cách. Mỗi lần tiếp xúc với sự tồn tại, đều giống như là chúng ta tự tiếp xúc với chính mình. Từ bản thể luận nhận thức nghệ thuật và mỹ coi như là một thứ hình thức cơ bản của tồn tại; lập trường ấy cùng nhất trí với Heidegger. Từ đó chúng ta mới thấy rõ nhu cầu toàn thể triết học của Gadamer là nghiên cứu vấn đề mỹ học.
Một phương diện khác là ông cho rằng giải thích học có tính cách phổ biến, tất cả sự tồn tại không cái gi là không thuộc về mỹ học. Do đó mỹ học phải là một bộ phận của giải thích học. Mỹ học phải xuất hiện trong giải thích học, điều đó không phải chỉ là lãnh vực dính dáng đến mỹ học, mà là sự biểu hiện rõ ràng nội dung của giải thích học càng thích dụng với mỹ học. Mỹ học là bộ phận của giải thích học, về căn bản mà nói là do lập trường cơ bản triết học của Gadamer quyết định. Một cách cụ thể chúng ta có thể thuyết minh như sau :
1.- Trước tiên, mỹ học cấu tạo giải thích học thành lãnh vực thứ nhất của triết học. Cái khung cơ bản của triết học giải thích học là do lãnh vực mỹ học, lịch sữ học, và ngôn ngữ học tạo thành ba lãnh vực lớn. Nghệ thuật và hiện tượng thẩm mỹ phản ánh rõ ràng đặc trưng cơ bản của kinh nghiệm giải thích học, cho nên trước tiên nó chiếm trọn chính điểm mỹ học nhập vào rồi dần dần triển khai thành lí luận triết học giải thích học.
2.- Điểm thứ hai, kinh nghiệm nghệ thuật là điểm xuất phát triết học giải thích học của Gadamer. Ông cho rằng giải thích học là do kinh nghiệm và lịch sử truyền thống xuất phát. Trong bài tựa lần xuất bản thứ hai tác phẩm “chân lí và phương pháp” ông nói rõ: ”Điểm xuất phát của tôi là các thứ lịch sử khoa học nhân văn, trong khi nó tách ra khỏi chủ nghĩa lãng mạn của Đức quốc, cùng với sự xâm nhập của tinh thần khoa học thiên nhiên hiện đại, nó duy trì được các thứ truyền thống nhân văn khác nhau và nghiên cứu sâu xa về nó; nhất là những kinh nghiệm đặc trưng của nghệ thuật. Rõ ràng điểm xuất phát của ông mong muốn là kinh nghiệm vượt lên trên kinh nghiệm khoa học thiên nhiên và trong kinh nghiệm đó, thì kinh nghiệm nghệ thuật phù hợp với sự đòi hỏi của ông. Vì kinh nghiệm nghệ thuật vượt lên trên phương pháp luận của khoa học thiên nhiên, nó tiếp cận cùng với kinh nghiệm triết học, kinh nghiệm lịch sử, vì phương thức kinh nghiệm của chân lí, nghệ thuật không thể nào dùng phương pháp của khoa học thiên nhiên chứng thực được.
3.- Điểm thứ ba là kinh nghiệm nghệ thuật không chỉ xuất phát điểm của sự cấu tao giải thích học, mà còn bao quát toàn bộ lãnh vực của nghệ thuật và là vấn đề đầy phức tạp trong nhận thức lí giải ý nghĩa “mỗi tác phẩm nghệ thuật đều cần được lí giải rộng rãi”. Nó ban cho ý thức giải thích học một thứ lí giải rộng rãi còn hơn cả ý thức thẩm mỹ. Mỹ học cần phải hấp thu giải thích học. Do đó, giải thich học cần phải quyết đoán là một thứ toàn thể kinh nghiệm phán đoán nghệ thuật . Cho nên trong giải thích học bao gồm cả mỹ học, coi như giải thích học là một bộ phận, nói về cơ bản, Gadamer cho rằng giữa triết học và nghệ thuật có mối liên hệ nội tại; tức là cả hai đều truy nả ý nghĩa của sự tồn tại. Cho nên đối với việc tìm hiểu bản văn và giải thích học không chỉ dính dáng đến khoa học, mà còn là một bộ phận trong toàn bộ kinh nghiệm của con người thế giới. Sự lí giải tạo thành sự tồn tại bản thể luận toàn bộ thế giới. Nói về tác phẩm nghệ thuật thì sự tồn tại của nó tất phải lấy sự lí giải làm tiền đề, chỉ cần chúng ta hiểu rõ tác phẩm nghệ thuật, nó đối với chúng ta thành hiểu biết rõ ràng, lúc đó đối với chúng ta nó mới là vật tồn tại trong nghệ thuật sáng tạo. Triết học giải thích học mới cấp cho bản thể luận ý nghĩa lí giải, thế giới phải trải qua sự lí giải mới tồn tại, và tác phẩm nghệ thuật giống như các đối tượng thẩm mỹ đều phải trải qua sự lí giải mới tồn tại. Điều đó thuyết minh giải thích học là một bộ phận của mỹ học.
4.- Điểm thứ tư, giải thích học là một bộ phận của mỹ học, nó còn là một bộ phận biểu hiện trong kinh nghiệm nghệ thuật và kinh nghiệm thẩm mỹ. Gadamer cho rằng kinh nghiệm giải thích học là đặc trưng cơ bản của kinh nghiệm thẩm mỹ, vì cả hai đều bao hàm sự lí giải. Do đó, bản thân kinh nghiệm nghệ thuật không phải là đối tượng ý nghĩa của một thứ phương pháp khoa học nào, tức không phải là một thứ “nhất thành bất biến” (một đơn vị không biến đổi), mà là một thứ kinh nghiệm có thể liên tục trùng phục, mà là hiện tượng biểu hiện một thứ giải thích học. Đối với kinh nghiệm của một tác phẩm nghệ thuật do điều kiện kinh nghiệm cá nhân khác nhau (như trình độ tu dưỡng văn hóa, sự ưa thích hứng thú, cá nhân từng trải, tính cách khí chất khác nhau, v…v…) và còn có tính nội hàm khác nhau. Cho nên đối với một tác phẩm đồng nhất, kinh nghiệm mỗi người mỗi khác, đối với kinh nghiệm nghệ thuật, chúng ta lệ thuộc vào một bộ phận của nghệ thuật. Nghệ thuật mang tính lịch sử, nó là vô hạn, là khai phóng. Tức là nói về kinh nghiệm nghệ thuật của mỗi cá nhân cũng là có hạn, nó đối với kinh nghiệm nghệ thuật cũng có hạn. Con người cũng không phải là một cá nhân cô lập, mà là một cá nhân đối xử trong lịch sử, con người liên tục đời đời, theo đó nói về con người toàn thể là vô hạn, đối với kinh nghiệm nghệ thuật của họ cũng vô hạn. Như vậy, tính tự do mở rộng của nghệ thuật ở nơi kinh nghiệm và người thưởng ngoạn, nghệ thuật hình thành một thứ mâu thuẩn thống nhất giữa vô hạn và hữu hạn tính. Ngoài ra, kinh nghiệm nghệ thuật và kinh nghiệm giải thích học giống nhau, đều là kinh nghiệm đối với tự thân, biểu hiện bản chất con người, hai thứ bản chât đều thuộc tính ngôn ngữ, v…v…. Cho nên những sự kiện đó đủ để thuyết minh giải thích học là một bộ phận của mỹ học.
Đem mỹ học coi như triết học giải thích học tạo thành một bộ phận hữu cơ, đó là điều Gadamer đối với mỹ học Tây phương hiện đại chú trọng bổ ích về khuynh hướng kinh nghệm thẩm mỹ tạo thành khái quát cao độ của triết học, coi đó như là đối tượng thẩm mỹ chính yếu tồn tại. Điểm thứ yếu là cải biến giải thích học mỹ học truyền thống đơn thuần truy tầm đôi tượng thẩm mỹ (là bản văn nghệ thuật) xu hướng hợp với nguyên thủy, đem sự chú ý chuyển qua việc nghiên cứu đối với kinh nghiệm thẩm mỹ là hợp thời thế.
2. Tính lịch sử trong việc lí giải thẩm mỹ
Gadamer căn cứ theo bản thể luận mà xem xét thẩm mỹ lí giải; như vậy lí giải thẩm mỹ không chỉ là thứ ý nghĩa trong việc thưởng ngoạn và lý giải, mà là khẳng định vai trò tự ngã trong việc lí giải, là khẳng định sự tồn tại của đối tượng thẩm mỹ. Lí giải thẩm mỹ là chủ thể thẩm mỹ đối thoại với bản văn nghệ thuật được lí giải. Một cách thành thật mà nói, đối thoại với bản văn không giống như đối thoại với một cá nhân. Chúng ta nỗ lực tìm người hiểu được tất phải thông qua tự thân giảng thoại bản văn. Nhưng chúng ta lại phát hiện cái thứ lí giải ấy, tức là sự giảng thoại của bản văn chứ không phải là phương pháp do chúng ta chủ động áp dụng một thứ do tùy ý mà là sự kì vọng vào sự phát hiện liên quan đến vấn đề đáp ứng của bản văn. Thực tế, cái mà bản văn nghệ thuật muốn nói cũng tức là điều trông chờ chủ thể thẩm mỹ đáp ứng. Lí giải thẩm mỹ cũng không có ý nghĩa cùng với đồi tượng được lí giải hoàn toàn nhất trí. Đồng thời trong lí giải thẩm mỹ, việc lí giải, giải thích và ứng dụng đều là một thứ hữu cơ với nhau.
Trong thẩm mỹ lí giải có một đặc điểm đột xuất là tính lịch sử, Gadamer rất chú trọng đến tính lịch sử này. Ông phân tích rất tường tận thẩm mỹ lí giải thành hàng loạt điều kiện cơ bản: thành kiến hợp pháp, truyền thống, cự li thời gian, hòa hợp thị giới, nguyên tắc hiệu quả lịch sử, giải thích học tuần hoàn, phát hiện kết quả của chúng đều bao hàm tính lịch sử rõ ràng. Triết học giải thích học của Gadamer là nhắm giải đáp vấn đề Kant nêu ra “lí giải làm sao có khả năng?” Để đáp ứng lại mỹ học giải thích cũng đặt thành vấn đề cơ bản: “Thẩm mỹ lí giải làm sao có khả năng? Đối với thẩm mỹ lí giải ông đưa ra hàng loạt điều kiện cơ bản để giải quyết vấn đề cơ bản. Trước tiên ông cho rằng: “chính thành kiến” bắt đầu thảo luận, theo ông thành kiến là điều kiện tiên quyết trong việc thẩm mỹ lí giải,vì nó là thành kiến hợp pháp.Tất cả sự lí giải không thể tránh né được sự bao hàm thành kiến. Cách nhìn ban cho vấn đề giải thích học sự khích động chân chính; ông kiên quyết phản đối giải thích học mỹ học truyền thống, quan điểm cho thành kiến là cội nguồn của sự lầm lẫn mà phát huy và khơi sâu tư tưởng “tiền kết cấu” liên quan đến li giải của Heidegger. Ông chủ trương một cách căn bản “thành kiến cá nhân cấu tạo” nên sự tồn tại của tính lịch sự hiện thực. Vì mỗi cá nhân đều sống trong một thời đại đặc biệt, xử sự trong văn hóa truyền thống và lịch sử đặc biệt, cũng do ảnh hưởng đặc biệt của hoàn cảnh cụ thể, từ đó không thể nào tránh được thành kiến của bản thân. Do đó, thành kiến là sản phẩm vật của lịch sử, mọi người đều không có cách gì tiêu trừ nó.
Gadamer còn tiến thêm một bậc nữa, cho rằng thành kiến vốn liên hệ chặt chẽ với truyền thống không thể chia cắt ra được.Truyền thống là một yếu tố của bản thân lịch sử, nói về căn bản, nó là một thứ bảo tồn. Một mặt nó thuộc về một bộ phận của lịch sử, không thể nào cắt đứt ra được, một mặt khác nó cũng không phải là vật chất cứng ngắt không biên đổi, mà tóm lại nó là một thứ sẵn sàng khiêu khích cố thủ tự thân bất biến, nó cũng có thể gạt bỏ, cùng kết hợp với cái mới, tức cũng có thể sáng tạo một thứ giá trị mới mẻ hình thành một truyền thống mới. Do đó một mặt nó có thể kế thừa lịch sử tính của quá khứ, một mặt nó cũng có tính tự do mở rộng đối với tương lai. Vì thế truyền thống đến từ quá khứ thể hiện trong hiện tại và hướng về tương lai. Thẩm mỹ lí giải chắc chắn cũng bị sự ước chế của truyền thống. Tuy nhiên chủ thể thẩm mỹ không tiếp thụ truyền thống một cách bị động. Nói về căn bản, đối với truyền thống chủ thể thẩm mỹ tích cực tham dự như sau.
Gadamer còn cho rằng, đối với ý nghĩa và nội dung của tác phẩm nghệ thuật cùng thời đại, chúng ta khó phán đoán một cách chính xác. Nguyên nhân, chúng ta không thể khống chế thành kiến của chúng ta, tiền đề của tác phẩm vốn cao hơn sự hiểu rõ của chúng ta đối với tác phẩm có ảnh hưởng rất lớn. Những thành kiến cùng với tiền đề sử trong những tác phẩm hiện đại 1à một thứ cọng minh, ngoại trừ những cọng minh đó không phù hợp với nội dung chân chính và ý nghĩa uẩn súc của chúng. Chỉ có tất cả sự liên hệ của chúng với hiện đại sau khi bị mất đi, thì bản tính chân chính mới hiển hiện ra, từ đó đối với những gì lí giải nói về chúng mới có quyền gọi là bản chất chân thật và phổ biến, cho nên Gadamer cho rằng chúng ta không thể nào nắm được ý sâu xa của tác phẩm nghệ thuật cùng thời đại; nguyên nhân ở chỗ chúng ta và tác phẩm thiếu vắng khoảng cách thời gian. Tại đây ông ta đưa ra thuyết về một thứ cự li thẩm mỹ thực tế. Nhưng không giống như Bullough, cự li thẩm mỹ của Gadamer là cự li thời gian, trong khi cư li thẩm mỹ của Bullough là cự li tâm lí. Theo quan điểm của Gadamer, giữa chủ thể thẩm mỹ và đối tượng cần phải có một khoảng cách thời gian, vì chỉ có như vậy. giửa chủ thể và khách thể mới có mối quan hệ mật thiết lợi hại, do đo mới quấy rầy chung ta trong việc lí giải. Thuyết cự li thẩm mỹ thời gian của ông có ý nghĩa tích cực là ở chỗ nó nêu rõ hoạt động thẩm mỹ không có mối quan hệ lợi hại trực tiếp, đó là đặc điểm cơ bản. Tuy nhiên nó quá tuyệt đối, căn bản phủ định đối với tính tiến hành khả năng cầm nắm tác phẩm nghệ thuật đương đại, đó là sự phồn diễn. Gadamer cho rằng, bộ sậu then chốt của thẩm mỹ lí giải là hòa hiêp với thị giác. Thị giác là khởi điểm của việc lí giải, góc độ với khả năng của tiền cảnh. Thị giác không phải là khép kín, việc lí giải tóm lại không cắt đứt cái thị giác to lớn của mình. Theo cách nhìn của Gadamer, bản văn nghệ thuật tự nó có cái thị giác (horizon) của lịch sử, tức là nói rằng, nó là điều kiện đặc biệt được xác định, lịch sử tồn tại được xác định là do cá nhân sáng tạo. Và chủ thể thẩm mỹ khi lí giải bản văn nghệ thuật, tự mình cũng xác định thị giác, thứ thị giác ấy là do cảnh ngộ lịch sử ban cho. Thực hiện thẩm mỹ lí giải tức là hệ thống hòa hợp hai thị giác khác nhau Kết quả hòa hợp thị giác là sẽ hình thành một thứ thị giới mới, mà thị giác mới ấy cũng sẽ hình thành xuất phát điểm một thứ lí giải bản văn nghệ thuật mới mẻ. Trong hiêu quả lịch sử lí gỉải tác phẩm nghệ thuật, đó là một nguyên tắc cơ bản của Gadamer giải thích học mỹ học. Ông cho rằng tác phẩm nghệ thuật là bao hàm hiệu quả của tác phẩm lịch sử. trong quá trình thẩm mỹ lí giải, cần phải biểu hiện một thứ hiệu quả lịch sử. Ông chỉ rõ, bản văn nghệ thuật mang tính tự do rộng rãi, ý nghĩa của nó luôn luôn không thể tận cùng, do đó nó sinh ra siêu việt thời đại của nó. Đó là những con người không cùng với thời đại, nên nó có khả năng đưa ra những lí giải về thời đại. Nếu tác phẩm nghệ thuật không có ý định tìm hiểu lịch sử, mà chỉ coi như là một thứ tồn tại tuyệt đối thì nó cũng khộng thể dùng bất cứ phương thức nào để tiếp thu. Nó phải dùng phương pháp mới mẻ đề xuất tính lịch sử trong tác phẩm nghệ thuật và vấn đề lịch sử tính trong thẩm mỹ lí giải; đó mới chính là nguyên tắc hiệu quả lịch sử giữ vai trò chủ yếu. Nguyên tắc lịch sử được nhấn mạnh, từ hiệu quả lịch sử trong tác phẩm nghệ thuật mà hiểu rõ tác phẩm, tức là lịch sử với hiện tại có mối tương quan mật thiết, đầy đủ để khẳng định tác phẩm văn nghệ cổ đại có ý nghĩa đối với xã hội đương đại. Do đo chỉ cần tác phẩm dẫm lên chức trách của nó, như thế lịch sử của mỗi thời đại đều cùng giống nhau. Như vậy, chúng ta chỉ có nhiệm vụ là chiếu theo sự ban bố của thời đại cấp cho tác phẩm mà giải thich. Nguyên tắc hiệu quả lịch sử vẫn theo lịch sử và biện chứng thống nhất của đương đại mà thẩm mỹ lí giải đối tượng vĩnh hằng của nó. Bản văn nghệ thuật sinh ra trong một thời đại xác định đặc biệt, nên nó thuộc vào thời đại đó, mà lại siêu việt thời đại nên mang tính vĩnh hằng. Do đó Gadamer mới chỉ rõ,“thứ thẩm mỹ tồn tại đó cùng với tính thời đại và tinh hiện hữu nên được gọi là mang tính vĩnh hằng.” Từ trong biện chứng thống nhất của lịch sử và đương đại mà hiểu được tính vĩnh hằng của tác phẩm nghệ thuật, đó là vì bản văn nghệ thuật có đầy đủ ý nghĩa vô cùng để thiết lập cơ sở. Đồng thời, nguyên tắc hiệu quả lịch sử đột xuất có tác dụng khiến độc giả mở ra nẻo đường tiếp thu mỹ học. Dĩ nhiên mỗi thời đại chúng ta đều dùng phương pháp khác nhau để lí giải bản văn nghệ thuật, mà trong bản văn nghệ thuật còn thấy được sự vật khác nhau; như thế độc giả không thể không khảo sát đến thời đại khác nhau. Chính ở chỗ độc giả tiếp cận lí gỉải khác nhau mà cấu thành tòan bộ ý nghĩa sâu xa của bản văn nghệ thuật. Gadamer còn đề cập đến vấn đề tuần hoàn trong giải thích học, ông cho rằng đó là một trong những điều kiện không thể thiếu trong việc lí giải thẩm mỹ. Cái gọi là giải thích học tuần hòan, tức chỉ vào nguyên tắc trong li giải thẩm mỹ, phải căn cứ vào các bộ phận của bản văn mà lí giải tòan thể bản văn, lại phải căn cứ vào toàn bộ bản văn mà lí giải các bộ phận. Đó là quá trình tuần hoàn phản phục. Giải thích tuần hoàn là một vận động mâu thuẫn, nó là toàn bộ cùng đối lập với các bộ phận phản ảnh có mối quan hệ thống nhất. Trong quá tình thẩm mỹ lí giải sẽ đụng chạm đến một vấn đề, cuối cùng có phải là lí giải toàn thể bản văn nghệ thuật, hay trước hết chỉ là lí giải từng bộ phận, rồi sau đó mới lí giải tòan bộ bản văn nghệ thuật? Rõ ràng không cứ gì là trước hay sau, trong đó bao hàm một đều không sao tránh khỏi là sự mâu thuẫn. Trước hết hãy hỏi, nếu không nắm vững những chi tiết trong toàn thể thì đối với toàn thể làm sao có thể lí giải được? Còn về phần sau, nếu đối với toản thể mà trong lòng không hề có một khái niệm tổng thể mà chỉ có thưởng ngoạn từng bộ phận trong tác phẩm; như thế dù có hiểu rõ các bộ phận cũng không sao nắm vững được tòan bộ tác phẩm. Cứ theo nguyên tắc cơ bản của tâm lí “cách thức tháp” Gestalt thì toàn bộ không phải trông vào sự hòa hợp các bộ phận; như thế rõ ràng chúng ta không sao nắm được toàn bộ tác phẩm nghệ thuật.Vậy làm sao giải quyết được sự mâu thuẫn này? Gadamer mới đưa ra ý kiến rất quan trọng là “sự dự đoán ý nghĩa”. Đối với những bản văn được lưu truyền, thì việc dự đoán ý nghĩa là cơ sở, thứ dự đoán ấy là tự mình đối với đề tài nắm được mối liên hệ; thực chât sự dự đoán là một thứ “tiền thiết kế” tức là trước hết đặt ra một thứ ý nghĩa dự đoán. Thứ dự đoán ấy là ảnh hưởng của thành kiến hợp pháp. Đồng thời việc đặt ra dự đoán trong quá trình lí giải thẩm mỹ, một mặt được chủ thể thẩm mỹ tu chỉnh. Hiển nhiên Gadamer đã nhấn mạnh đến phần lí luận tuần hoàn trong giải thich học về hoạt động biện chứng trong toàn thể và các bộ phận để lí giải bản văn nghệ thuật, trình bày tính năng động chủ quan của chủ thể thẩm mỹ, đồng thới tiến thêm một bước đột xuất về lịch sử tính của thẩm mỹ giải thích học.
3.-Tính ngôn ngữ trong giải thích thẩm mỹ
Như một nhà ngôn ngữ học Gadamer đặc biệt chú trọng đến tác dụng ngôn ngữ trong thẩm mỹ li giải; nên đặc biệt sở trường tiến hành việc phân tích ngôn ngữ. Dĩ nhiên coi trọng việc nghiên cứu ngôn ngữ trong giải thích học mỹ học vốn bắt đầu từ Schleiermacher nên cũng đã trở thành một thứ truyền thống. Vấn đề ngôn ngữ đã tạo cho tư tưởng mỹ học của Gadamer cơ sở bản thể luận, lãnh vực ngôn ngữ là một trong ba lãnh vực của giải thich học mỹ học. Tất cả sự lí giải bao gồm ở bên trong thẩm mỹ lí giải đều không tách rời khỏi ngôn ngữ. Trước tiên đó là tính công cọng, Gadamer chỉ rõ “tất cả sự đàm thoại đều dùng một thứ ngôn ngữ công cọng là tiền đề, hay nói rằng đều là một thứ ngôn ngữ công cọng được sáng tạo. Phương pháp này cùng với quan điểm của Wittgenstein đề xuất rất tương tợ. Ngôn ngữ không phải do tư nhân qui định. 
Điểm thứ hai ngôn ngữ có tính ẩn dụ; bất cứ ngôn ngữ nào đều bao gồm một thứ chia sẻ. Tạm dùng ngôn ngữ của chù nghĩa cơ cấu của Levis-Sttrauss để diễn tả, đó là “năng ngôn” và “ sở ngôn”, nó cũng chính là nguyên nhân căn bản của tính ẩn dụ. Sau cùng ngôn ngữ có thể được lí giải tạo thành điếu kiện cơ bản hợp pháp của thành kiến trong thẩm mỹ lí giải, tính truyền thống dung hòa thị giác, giải thích học tuần hoàn, v…v… đều là tính chất của ngôn ngữ. Do đó ngôn ngữ tạo thành một thứ cơ sở thẩm mỹ lí giải; tách rời khỏi ngôn ngữ, chúng ta không có cách gì lí giải bản văn nghệ thuật. Giống như vậy tách rời ngôn ngữ bản văn nghệ thuật về căn bản cũng không sao tồn tại. Do đó Gadamer đối với vân đề ngôn ngữ thường nhấn mạnh :” Nếu chúng ta nhớ lại cái tên gọi của giải thích học, như thế rõ ràng dễ thấy chúng ta phải xử lí điều kiện của ngôn từ, tức đem thứ ngôn ngữ này chuyển thành ngôn ngữ khác; vì đó là mối quan hệ trong cach xử lí hai thứ ngôn ngữ…. Đây là kết luận rõ ràng đối với vấn đề mà ở đây chúng ta hằng quan tâm – vấn đề nghệ thuật ngôn ngữ và liên quan đến quan điểm giải thích học kinh nghiệm nghệ thuật với vấn đề hợp lí tính có ý nghĩa quyết định. Mỗi thứ đều giúp đở cho người khác lí giải đối với việc giải thich sự vật có thể biết đều có đặc tính của ngôn ngữ.
Đương nhiên cái ngôn ngữ nói ra ở đây là cái ngôn ngữ theo nghĩa rộng. Ngôn ngữ đối với thẩm mỹ lí giải có tác dụng căn bản, một mặt mục tiêu căn bản của tác phẩm nghệ thuật là cần phải nói ra mỗi thứ sự vật, tức là cái nghĩa thật của nó là dùng ngôn ngữ nghệ thuật biểu hiện ra; một mặt khác nữa chủ thể thẩm mỹ đối với việc lí giải tác phẩm hoàn thành là phải thông qua ngôn ngữ, nó phải dùng cái ngôn ngữ của bản thân để lãnh hội cái sự vật mà tác phẩm nói đến. Gadamer cho rằng, cái mô thức cơ bản của thẩm mỹ lí giải là đối thoại là trả lời. Lí giải là thực hiện bằng sự đối thoại; mỗi một lần đối thoại đều có tiên đoán, xác định một thứ ngôn ngữ cọng đồng, hoặc nói rằng nó sáng tạo một thứ ngôn ngữ cọng đồng. Giúp đỡ cho thứ ngôn ngữ cọng đồng, việc đối thoại có thể là giao lưu hỗ tương. Nhân đó, đối thoại trước hết là một sự giao lưu hỗ tương. Gadamer coi quá trình đối thoại như là quá trình tương hỗ lí giải giữa hai người. Mỗi lần đối thoại chân chính đều biểu hiện một cá nhân nhưng về một cá nhân tự bộc bạch, chủ thể thẩm mỹ với bản văn nghệ thuật đối thoại cũng giống như vậy. Thành thật mà nói thứ bản văn không hẳn giống như một cá nhân nói năng với chúng ta. Chúng nói năng; nhưng chúng ta lại phát hiện thứ lí giải ấy, tức để cho bản văn nói năng. Hoàn toàn không phải do chúng ta chủ động áp dụng một phương pháp của một ý kiến nào, mà là một thứ kì vọng trong bản văn phát hiện sự phúc đáp liên quan đến vấn đề. Có thể thấy rõ giữa chủ thể thẩm mỹ cùng đối thoại với bản văn nghệ thuật, là để đạt đến mục đích hỗ tương giao lưu, tức là đối với chủ thể thẩm mỹ nói năng và chủ thể thẩm mỹ cũng đối đáp với bản văn nghệ thuật. Thông qua môi giới của sự kì vọng thẩm mỹ, cuối cùng đạt đến cảnh giới hiện tại của chủ thể thẩm mỹ cùng với thị giới lịch sử của bản văn nghệ thuật dung hoà với nhau, khiến cho thực hiện được sự thẩm mỹ lí giải
Gadamer cho rằng đối thoại không phải là tùy ý muốn , mà là ý chí chủ quan của chủ thể thâm mỹ quyết định. Việc đối thoại được sự đối thoại chỉ dẫn mà không thể tính trước được, mỗi lần đối thoại sẽ đưa đến kết quả gì. Đó là vì trước tiên trong đối thọai, sự nội hàm trong bản văn nghệ thuật là vô giới hạn, không cùng thời đại, không cùng trường hợp, thậm chí trong đối thoại khác nhau, bản văn nghệ thuật sẽ luôn luôn tự nó phô bày các phương diện ý nghĩa mới lạ. Chính vì ý nghĩa của bản văn nghệ thuật mang tính tự do phóng khoáng, cho nên chủ thể thẩm mỹ không thể nào đoán được hay nắm được hòan toàn ý nghĩa của bản văn nghệ thuật. Như thế đối thoại cũng không thể nào gần gũi với ý chí chủ thể thẩm mỹ. Điểm thứ yếu, sự ước chế hợp pháp của thành kiến cũng khiến cho chủ thể không được tùy ý chi phối sự đối thoại. Trong nội dung của thành kiến bao hàm có người thì chủ thể thẩm mỹ minh xác được ý thức, có người thì không giống như vậy mà là tich lủy sâu xa trong tâm lí cái nhân tố tiềm ý thức. Cái nhân tố tiềm ý thức ấy trong đối thoại không chuyển dời được ý chí của chủ thể thẩm mỹ, mà tích cực tham dự cùng với chủ thể đối thoại với bản văn nghệ thuật; Điều đó làm cho đối thoại không có cách gì nắm được một trong những nguyên nhân của chủ thể thẩm mỹ. Gadamer cho rằng, đối thoại cùng với ngôn ngữ có sự hỗ tương giúp đỡ lẫn nhau. Trong sự đối thoại ngôn ngữ không chỉ là một thứ công cụ, đồng thời cũng là một thứ trong dân gian phát huy toàn thể bối cảnh sinh hoạt xã hội. Trong thẩm mỹ lí giải đối thoại và ngôn ngữ tương trợ lẫn nhau phô bày đầy đủ tính ngôn ngữ tự thân.
Kết cấu cơ bản của đối thoại là hỏi và đáp; trong thẩm mỹ lí giải cũng đối thoại với bản văn nghệ thuật, trước tiên là “đề vấn” cũng tức là nói, chủ thể thẩm mỹ đề xuất một vấn đề như thế này: “Cứu cánh của bản văn nghệ thuật ấy muốn nói với chúng ta điều gì?” Và bản văn nghệ thuật hướng về phía chủ thể thẩm mỹ nói năng,cũng tức là muốn đáp lại vấn đề mà chủ thể thẩm mỹ đề ra. Một mặt khác, trong phúc đáp lí giải thẩm mỹ có hai hướng , tức là nói rằng bản văn nghệ thuật cũng hướng về phía chủ thể thẩm mỹ đưa ra vấn đề, chủ thể thẩm mỹ phúc đáp. Dùng lời của Gadamer mà nói :“Cái âm thanh thuyết thoại hướng về phía chúng ta là đến từ quá khứ (bản văn, tác phẩm, di tích) bản thân đều là vấn đề, bản thân đều đưa ra vấn đề để chúng ta mở rộng trạng thái ý nghĩa.
Gadamer còn dùng góc độ của bản thể luận tiến thêm một bước phân tích vấn đề ngôn ngữ trong thẩm mỹ lí giải. Ông cho rằng, sự tồn tại của con người là do ngôn ngữ đầy đủ, thông qua nghệ thuật ngôn ngữ, chủ thể thẩm mỹ không chỉ lí giải được tác phẩm nghệ thuật, đồng thời còn lí giải được tự thân. Cùng lúc ngôn ngữ nghệ thuật cấu tạo nên một bộ phận tồn tại tác phẩm nghệ thuật. Có thể lí giải được sự tồn tại tức là ngôn ngữ, ngôn ngữ bản thể luận của ông mang dấu ấn sâu sắc của tư tưởng Heidegger. Cả hai người đều coi sự tồn tại như là ngôn ngữ gia tăng cho sự lí giải, cho rằng “tồn tại chỉ có trong cái nhà của ngôn ngữ”; cũng chỉ có “ở trong nhà của ngôn ngử mới lí giải được. Dùng ngôn ngữ coi như cơ sở của tồn tại, coi như cội nguồn của thế giới vạn vật, rõ ràng đó là thứ khách quan của chủ nghĩa duy tâm của ngôn ngữ bản thể luận.
4.- Lí luận nghệ thuật của Gadamer
Từ lập trường triết học giải thích học xuất phát, Gadamer đặc biệt chú trọng đến điểm xuất phát của bản thể luận mà tìm hiểu bản chất nghệ thuật, trong đó bao hàm nội dung phong phú và những kiến giải độc đáo’. Trước tiên, Gadamer coi nghệ thuật đối với con người là sự tồn tại tự thân, kết hợp với sự nhận thức lí giải hiểu rõ tự ngã. Trong nghệ thuật không hề có một bộ phận đơn độc nào không quan sát đến chúng ta. Nói về mối liên hệ giữa người với tự thân chúng ta, bất cứ một phương diện nào đều có nhiệm vụ dựa vào sự tìm hiểu tự ngã. Ông ta cho rằng nghệ thuật là do con người tự tìm hiểu đối với tự thân. Do đó mà nhấn mạnh ba điều :”Chúng ta cần phải thừa nhận, nghệ thuật phẩm là do con người vì người mà sáng tạo. Tóm lại, chúng nói ra điều chúng ta là cái gì? Theo cach nhìn của Gadamer, nghệ thuật chủ yếu khác với thiên nhiên là không vì con người mà tồn tại, ý nghĩa thiên nhiên của nghệ thuật lấy đó làm điều cơ bản, tức nghệ thuật đối thoại với chúng ta, nghệ thuật với tánh đạo đức của nó được qui định hướng về con người mà phát triển sự tồn tại tự thân của nó. Sản phẩm nghệ thuật vì cách thế đó đối thoại với chúng ta mà thành tồn tại. Sản phẩm thiên nhiên ngược lại, chúng không theo cách đối thoại với chúng ta mà tồn tại. Về tác phẩm nghệ thuật chúng ta nhìn chúng là một thế giới hòan chỉnh, đó là thế giới của tác phẩm nghệ thuật. Nhưng đồng thời chúng ta cũng thông qua thế giới học hiểu đó mà tự lí giải đối với tự thân. Theo cách thức đó và theo ý nghĩa mà nói nghiêm chỉnh thì nghệ thuật tức là nhận thức. Theo Gadamer, nghệ thuật như là một phương thức nhận thức độc đáo, nó không giống như nhận thức khoa học thiên nhiên đưa ra những cảm tính của số cứ, nó cũng là thứ nhận thức không giống với nhận thức lí tính thuộc đạo đức; cũng không phải là nhận thức khái niệm, mà chính là một thứ nhận thức của một thứ chân lí truyền đạt. Tính độc đáo của nhân thức nghệ thuật là phương thức nhận thức chân lí. Chân lí theo Gadamer là đồng nghĩa với sự tồn tại, ông cho rằng tác phẩm nghệ thuật là biêu hiện chân lí, đồng thời cũng là biểu hiện sự tồn tại. Gadamer còn cho rằng nghệ thuật là hình tượng mang tính tồn tại khuêch sung. Ông chỉ rõ, “nghệ thuật theo căn bản mà nói, cung cấp cho sự tồn tại tính chất hình tượng khuếch sung. Từ ngữ và hội họa không phải là thuyết minh cho sự mô phỏng đơn thuần mà là để cho vật biểu trương tùy theo sự vật đó mà tồn tại hoàn toàn, dùng hình tượng của nghệ thuật thuyết minh tính tồn tại, ở đây rõ ràng in dấu ấn của Heidegger, ông này đem nghệ thuật biểu thị tính tồn tại của tồn tại. Heidegger dùng bức vẽ đôi giày của Van Gogh để thuyết minh – đôi giày đó không phải là vật tồn tại của chủ nhân sử dụng, mà là biểu thị thế giới sinh họat của người phụ nữ nông thôn. Gadamer cũng giống như Heidegger cho rằng tác phẩm nghệ thuật là dùng hình tượng biểu hiện sự tồn tại. 
Sự tồn tại nghệ thuật trong du hí – Nghệ thuật là trò chơi, nhưng không giống như Croce hay Spench mà là chịu ảnh hưởng của Kant và Schiller. Gadamer chú trọng đến phương diện tự ngã con người biểu hiện, nhấn mạnh đến cơ bản đặc trưng của sự biểu hiện nghệ thuật. Ông cho rằng “ý nghĩa của nghệ thuật là dựa vào nó mà chúng ta nói lên cái gì là sự thật” – con người có thể đối diện với tự thân trong nghệ thuật, vì nghệ thuật là vùng đất trời để tâm linh con người hoạt động tự do. Vì sao bản thân tác phẩm nghệ thuật là phương thức tồn tại? Gadamer phân tích: Trước tiên tác phẩm nghệ thuật và du hí giống nhau, đều là phương thức biểu hiện tự ngã. Ông nói: nghệ thuật cũng là một thứ trò chơi, như thế sự biểu hiện tự ngã là bản chất chân thực của trò chơi, vì bản chất chân thực cũng chính là nghệ thuật. Tóm lại, nghệ thuật biểu hiện bản chất sự vật là cái gì đó của con người; vì có như vậy khi con người đối diện với nghệ thuật phẩm mời có thể nói là đối diện với tự thân, thấy được trong nghệ thuật tâm linh con người hoạt động tự do. Trong nghệ thuật và trò chơi, người thưởng ngoạn đều không thể vắng mặt. Theo sự liên quan mà xét thì trò chơi vẫn là trò chơi, “chỉ có soi xét trong cuộc chơi, trò chơi mới đạt được trọn vẹn ý nghĩa,” Đó là vì bản thân trò chơi là do người vui chơi và kẻ thưởng ngoạn cùng tổ hợp thành. Do đó, mà Gadamer mới kết luận :”sự biểu hiện nghệ thuật, xét từ bản chất của nó là như thế, tức là nghệ thuật tồn tại là vì một số người, dù không có một người nào thì chỉ là nghe ngóng hay thưởng ngoạn thì tồn tại nơi nào. Trò chơi và nghệ thuật đều cần có người thưởng ngoạn, kẻ thưởng ngoạn thậm chí còn quan trọng hơn là trò chơi, nó trở thành nhân tố quyết định trò chơi.
Rõ ràng và dễ thấy, Gadamer mới dùng quan điểm đó mà nhấn mạnh tác dụng của sự tiếp thụ, dùng tiếp thụ mỹ học mà khai mở ra con đường. Điểm thứ yếu nữa là nghệ thuật và trò chơi còn có đặc trưng cọng đồng. Tức là dùng nghệ thuật và bản thân du hí làm chủ thể chứ không dùng nghệ thuật gia và kẻ bày trò chơi. Kẻ bày trò chơi không phải là chủ thể của trò chơi, mà là thông qua người hoạt động của trò chơi mới thực hiện được. Bởi vì chính trò chơi mới có ma lực hấp dẫn kẻ vui chơi lao vào trong trò chơi; cho nên nghệ thuật và trò chơi đều duy trì một thai độ vui chơi nghiêm túc, trong hoạt động nghệ thuật hoàn toàn không suy tư gì đến tự thân. Coi trò chơi như là phương thưc tồn tại của tác phẩm nghệ thuật, sự biểu minh ấy Gadamer hòan toàn theo lập trường của giải thích học mà giải quyết vấn đề bản chất nghệ thuật. Trước tiên ông đột xuất đề cao địa vị người thưởng ngoạn, đó là quan điểm cơ bản của giải thích học mỹ học. Cao điểm của giải thích học mỹ học không phải coi trọng tác phẩm nghệ thuật, mà là sự lí giải và giải thích của người thưởng ngoạn đối với tác phẩm không cùng thời đại. Điểm thứ nữa là đưa ra tính biểu hiện đặc trưng của nghệ thuật. Mỹ học của giải thích học cho rằng bản thân nghệ thuật tóm lại là muốn đối thoại với sự lí giải Xem nghệ thuật là sự biểu hiện tự ngã, mà cũng là do sự thưởng ngoạn mà biểu hiện; đo là tiến thêm một bước chứng minh rằng nghệ thuật là hướng về kẻ thưởng ngoạn mà nói năng, đó là một sự thật cơ bản. Thêm một lần nữa, nhấn mạnh nghệ thuật và trò chơi, chủ thể chân chính của nó không phải là nghệ thuật gia hay diễn viên trò chơi, mà chinh là bản thân của nghệ thuật và trò chơi.
Gadamer lại cho rằng nghệ thuật là thứ cởi mở vô cùng. Mỹ học giải thích học truyền thống thì cho rằng nghệ thuật là khép kín, tác phẩm nghệ thuật là do tác gỉả sáng tạo thành, ý nghĩa của nó hoàn toàn tồn tại ở trong tác phẩm. Người thưởng ngoạn cần đến thì phải đem nó ra phô bày mà thôi. Gadamer cương quyết phản đối quan điểm đó mà cho rằng “bản thân tác phẩm nghệ thuật là luôn luôn có điều kiện biến hóa, là vật trình hiện khác nhau. Nói như thế, ý nghĩa của tác phẩm nghệ thuật không phải là cố định bất biến. Như vậy, tại sao ý nghĩa tác phẩm nghệ thuật lại vô cùng cởi mở? Gadamer cho rằng: điều trước tiên vì ý nghĩa của văn bản nghệ thuật luôn luôn vượt ra ngoài nguyên ý của tác giả. Ông nói rằng, đúng như sự kiện lịch sử đều không biểu hiện được tính sinh tồn mà lịch sử trải qua. Mà còn có chỗ như tư tưởng chủ quan của nhân vật làm sao mà đạt đến được, ý tứ trong bản văn thông thường cũng vượt xa nguyên ý của tác giả. Thế mới thấy, ý nghĩa của tác phẩm nghệ thuật có tính chất mở rộng, trước tiên là vì ý nghĩa đi xa ý đồ hạn chế của tác giả. Nếu cho ý nghĩa của tác phẩm nghệ thuật chỉ là ý thức tự giác của tác giả đạt được, thế thì làm sao thấy được nhân tố vô thức hay tiềm ý thức của tác giả trong sự sáng tạo. Khi tác giả sáng tạo, do các phương diện truyền thống, văn hóa tích lủy trong các tầng sâu của ý thức, ảnh hưởng đến sự sáng tác của tác giả; cho nên dù tác giả không ý thức đến, nhưng trong tác phẩm vẫn phản ánh những yếu tố vô thức. Do đó, điểm do tinh thần phân tích học mỹ học biểu hiện, đó là sự chứng thực thực tiển trong sáng tạo nghệ thuật. Đương nhiên tính cởi mở của nghệ thuật căn bản nhất là do mối liên hệ của tồn tại nghệ thuật. Bản văn nghệ thuật sau khi được sáng tạo, không phải chỉ tồn tại ở thời đại nó được sáng tác, mà còn tiếp tục tồn tại trong các thời đại về sau. Đó là lịch sử phát triển bản văn nghệ thuật sẽ luôn luôn hiển hiện ý nghĩa mới của nó.
Cuối cùng Gadamer còn đề cập đến vấn đề mà lí luận nghệ thuật đều không thể né tránh được là mối quan hệ giữa nghệ thuật và thực tiển. Gadamer cho rằng nghệ thuật không có nghĩa phục chế hiện thực, ông tán đồng quan điểm của Thánh Schiller cho rằng “làm cho cái đẹp hiển hiện ra” nghệ thuật là đối lập với hiện thực; cho nên ý thức thẩm mỹ đối với hiện thực rất xa cách. Bản thân nghệ thuật là một thế giới; trong tác phẩm nghệ thuật có thể hiện sự hiện thực thì đó là thứ hiện thực tồn tại trong sinh hoạt, nó khác với hiện thực ở ngoài đời. Thế giới thực sự trong tác phẩm là một thứ thế giới được cải tạo hoàn toàn. Không phải chỉ có thế, cái thế giới mà trong nghệ thuật hiển hiện là thế giới hiện thực được tập trung và biến đổi. Gadamer muốn nghệ thuật phải tập trung, phải phản ánh thế giới hiện thực bằng cách lí tưởng hóa. Có thế mới thấy Gadamer đối với nghệ thuật và hiện thực có mối quan hệ cơ bản như sau : Thế giới trong nghệ thuật cao hơn thế giới tồn tại thực tại, nhưng lại không thoát li khỏi thế giới thực tế. Chính vì ý nghĩa đó, ông cho rằng nghệ thuật chắc chắn tồn tại phải mô phỏng thế giới hiện thực, nhưng mô phỏng không phải là phục chế, mà bất cứ sự mô phỏng nào đều là biểu hiện. Cách nhìn của ông như vậy là dung hòa sự biểu hiện mỹ học truyền thống tây phương với thuyết “mô phỏng”, cũng là cách giải quyết vấn đề giữa hiện thực và nghệ thuật tốt hơn.
(10-2012)
Nguồn:

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét